Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
aa
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Ba lực đỡ giữ lãi suất huy động đi ngang, nhưng khó giảm sâu

Tại báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) nhận định, thanh khoản ngắn hạn cải thiện, hỗ trợ lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng có thể ổn định hơn trong thời gian tới, nếu tỷ giá tiếp tục hạ nhiệt và Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết thanh khoản linh hoạt qua thị trường mở (OMO).

Theo nhóm phân tích của VPBankS, lãi suất qua đêm biến động mạnh trong nửa đầu năm 2026, có thời điểm tăng lên vùng 8 - 12% khi thanh khoản hệ thống chịu sức ép từ tăng trưởng tín dụng nhanh và áp lực tỷ giá. Tuy nhiên, từ cuối tháng 7 đến tháng 8, lãi suất qua đêm đã giảm rõ rệt về quanh 3 - 4%, cùng chiều với việc tỷ giá USD/VND hạ nhiệt.

Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn, dù chưa thể xem là dư thừa, do khối lượng hỗ trợ qua kênh thị trường mở vẫn duy trì ở mức tương đối cao.

Thanh khoản “dễ thở” hơn, lãi suất vẫn khó giảm sâu, chi phí vốn vẫn nặng gánh

Trên thị trường 1, sau giai đoạn tăng nhanh từ cuối năm 2025 đến cuối quý I/2026, lãi suất huy động đã ổn định hơn trong quý II/2026.

Theo dữ liệu lãi suất huy động tại quầy mà VPBankS theo dõi, lãi suất kỳ hạn 12 tháng toàn thị trường đạt vùng cao nhất khoảng 6,04% vào cuối tháng 3, sau đó giảm nhẹ về 5,9% vào cuối tháng 6 và đi ngang quanh 5,91% trong tháng 8.

“Chúng tôi cho rằng, dư địa giảm sâu của lãi suất huy động là không lớn. Tăng trưởng tín dụng vẫn đang cao hơn huy động, trong khi nhu cầu vốn thường tăng nhanh trong nửa cuối năm, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đầu tư công, hạ tầng và các dự án trung, dài hạn”.

- Nhóm phân tích của VPBankS

“Diễn biến này cho thấy áp lực tăng lãi suất huy động đã dịu lại, chủ yếu nhờ dòng tiền gửi quay lại tốt hơn và định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định mặt bằng lãi suất” - nhóm phân tích của VPBankS nhận định.

Chỉ rõ 3 yếu tố giúp mặt bằng lãi suất huy động đi ngang trong quý III/2026 và có thể giảm nhẹ từ cuối quý III đến đầu quý IV/2026, nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước đang định hướng ổn định mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời khuyến khích các ngân hàng tiết giảm chi phí vốn để có dư địa giảm lãi suất cho vay.

Thứ hai, thanh khoản hệ thống đã bớt căng hơn so với quý I/2026 khi dòng tiền gửi quay lại tốt hơn. Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội mới đây của Bộ Tài chính, đến ngày 22/8/2026, huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 7,97% so với đầu năm, cao hơn mức 1% trong quý I/2026 và 5% trong quý II/2026.

Thứ ba, các chính sách hỗ trợ nguồn vốn như nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 50%, nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% và khả năng sử dụng thêm các công cụ hỗ trợ thanh khoản như OMO, tái cấp vốn khi cần thiết sẽ giúp giảm bớt áp lực huy động, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh.

Sở dĩ dư địa lãi suất khó giảm sâu, VPBankS cho rằng, theo dữ liệu báo cáo tài chính của 25 ngân hàng niêm yết, tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn đã tăng lên 47,3% trong quý II/2026. Do đó, các ngân hàng vẫn cần duy trì nguồn vốn ổn định hơn để cân đối kỳ hạn.

Cùng với đó, việc huy động từ tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 6,7% so với đầu năm, trong đó giấy tờ có giá tăng 16,7%, cũng cho thấy các ngân hàng vẫn phải bổ sung nguồn vốn ngoài tiền gửi thông thường. Do đó, lãi suất huy động nhiều khả năng chỉ giảm nhẹ ở một số kỳ hạn, trong khi chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.

Ngân hàng khó giảm mạnh chi phí vốn, NIM vẫn chịu sức ép

Thực tế cho thấy, ở chiều nguồn vốn, huy động đã cải thiện trong quý II/2026, nhưng vẫn chưa theo kịp hoàn toàn tốc độ tăng tín dụng.

Thanh khoản “dễ thở” hơn, lãi suất vẫn khó giảm sâu, chi phí vốn vẫn nặng gánh

Theo VPBankS, tăng trưởng huy động từ tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 6,7% so với đầu năm, trong đó tiền gửi khách hàng tăng 5,4%, còn giấy tờ có giá tăng mạnh 16,7%. Diễn biến này cho thấy, các ngân hàng đang chủ động bổ sung nguồn vốn ngoài tiền gửi thông thường để chuẩn bị cho nhu cầu tín dụng cao hơn trong nửa cuối năm.

Đáng chú ý, trái phiếu ngân hàng tiếp tục là kênh huy động quan trọng trong quý II/2026. Nhóm ngân hàng phát hành mới khoảng 110.000 tỷ đồng trái phiếu, chiếm 47,5% tổng giá trị phát hành mới toàn thị trường. Kỳ hạn phát hành bình quân khoảng 5,3 năm, phản ánh nhu cầu huy động đang dịch chuyển nhiều hơn sang nguồn vốn dài hạn, phù hợp với xu hướng tín dụng trung, dài hạn tăng nhanh hơn trong quý.

Bên cạnh trái phiếu trong nước, một số ngân hàng cũng tăng huy động vốn quốc tế để đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn.

Cuối tháng 6/2026, VPBank ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với 15 định chế tài chính quốc tế. Cuối tháng 7/2026, HDB tiếp nhận khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD. Trong khi đó, VIB đặt mục tiêu huy động khoảng 1 tỷ USD trong năm 2026, bao gồm phương án phát hành trái phiếu quốc tế.

Theo VPBankS, thanh khoản hệ thống đã cải thiện so với quý I/2026, nhưng chưa đủ để tạo dư địa giảm chi phí vốn mạnh. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng vẫn phải duy trì lãi suất huy động ở mức cạnh tranh và chủ động bổ sung nguồn vốn dài hạn qua giấy tờ có giá, trái phiếu ngân hàng và vốn vay quốc tế.

“Điều này giúp giảm áp lực thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, nhưng cũng khiến chi phí vốn khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025. Do đó, chúng tôi cho rằng biên lãi ròng (NIM) có thể phục hồi so với nền thấp đầu năm, nhưng sẽ không cải thiện đồng loạt” - nhóm phân tích của VPBankS đánh giá.

Theo đó, nhóm ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) ổn định, tệp khách hàng tốt và khả năng điều chỉnh lợi suất cho vay sẽ bảo vệ biên tốt hơn; ngược lại, nhóm phụ thuộc nhiều vào tiền gửi kỳ hạn dài hoặc nguồn vốn chi phí cao sẽ chịu áp lực lớn hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17869 18143 18722
CAD 17931 18206 18824
CHF 30963 31340 31983
CNY 0 3835 3931
EUR 29060 29279 30360
GBP 33766 34155 35093
HKD 0 3185 3388
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14517 15102
SGD 19811 20093 20672
THB 697 760 814
USD (1,2) 25744 0 0
USD (5,10,20) 25783 0 0
USD (50,100) 25811 25825 26195
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25825 25825 26185
AUD 18064 18164 19089
CAD 18112 18212 19228
CHF 31186 31216 32794
CNY 3817.6 3842.6 3977.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29211 29241 30977
GBP 34032 34082 35840
HKD 0 3315 0
JPY 161.21 161.71 172.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14615 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19968 20098 20820
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30