Cân nhắc mức phạt, bảo đảm quyền của người dân khi xử lý vi phạm hành chính
Tăng mức phạt cần tương quan khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp
Dự thảo luật đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long) đề nghị “chưa tăng đồng loạt nếu chưa có đánh giá tác động theo lĩnh vực và nhóm chịu tác động”.
Theo đại biểu, mức phạt cần gắn với tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả, lợi ích bất hợp pháp thu được và khả năng khắc phục. Cùng với phạt tiền, cần áp dụng thực chất các biện pháp khôi phục tình trạng ban đầu, tháo dỡ công trình sai phạm, khắc phục ô nhiễm và nộp lại khoản lợi bất hợp pháp.
![]() |
| Đại biểu Mai Thị Phương Hoa (đoàn Ninh Bình) phát biểu. |
Còn đại biểu Mai Thị Phương Hoa (đoàn Ninh Bình) cho rằng, việc tăng mức phạt cần được cân nhắc trong tương quan với khả năng chi trả của cá nhân, doanh nghiệp. Dự thảo còn bổ sung các biện pháp cưỡng chế và quy định về khắc phục hậu quả, xử phạt bổ sung có thể tác động đến đời sống, sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, đại biểu đề nghị đánh giá kỹ để mức phạt “vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa không ảnh hưởng quá nhiều đến đời sống, sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp”. Trước mắt, đại biểu đề nghị tập trung tăng mức phạt đối với hành vi liên quan đến sức khỏe cộng đồng, an toàn thực phẩm và môi trường.
Ở một góc nhìn khác, đại biểu Hà Thị Anh Thư (đoàn Quảng Ngãi) lưu ý mức phạt trần cố định có thể vẫn thấp hơn khoản lợi mà doanh nghiệp quy mô lớn thu được từ một số hành vi vi phạm. Khi đó, “tiền phạt có nguy cơ trở thành một khoản chi phí được tính trước trong bài toán kinh doanh”. Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu mức phạt theo tỷ lệ doanh thu liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm hoặc theo nhiều lần khoản thu lợi bất hợp pháp đối với một số nhóm vi phạm có động cơ kinh tế; đồng thời thu hồi lợi ích bất hợp pháp và buộc khắc phục hậu quả.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (đoàn thành phố Huế) cho rằng việc nâng mức phạt có thể cần thiết ở những lĩnh vực mà lợi ích từ vi phạm lớn hoặc hậu quả xã hội nghiêm trọng, song cần phân biệt mức trần của khung phạt với mức phạt cụ thể trong từng vụ việc. Với quan điểm đó, đại biểu đề nghị rà soát đồng bộ quy định về mức phạt và thẩm quyền xử phạt, đồng thời cân nhắc quy định cho phép áp dụng mức phạt cao hơn tại một số địa bàn để bảo đảm tính thống nhất trong nghĩa vụ pháp lý của người dân và doanh nghiệp.
Làm rõ giới hạn, trách nhiệm với các biện pháp cưỡng chế
Ngoài ra, dự thảo cũng bổ sung các biện pháp cưỡng chế như ngừng cung cấp điện, nước, dịch vụ internet, viễn thông; niêm phong địa điểm và tạm hoãn xuất cảnh.
Về nội dung này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) thống nhất với mục tiêu khắc phục tình trạng đã có quyết định xử phạt nhưng không thi hành được. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý việc ngừng điện, nước tại một địa điểm có thể ảnh hưởng đến người cùng thuê tòa nhà; ngừng dịch vụ internet có thể làm gián đoạn giao dịch, học tập, kinh doanh của những người không vi phạm.
“Khi cân nhắc một biện pháp cưỡng chế, chúng ta phải trả lời được cả hai câu hỏi: biện pháp đó có giúp thi hành quyết định hay không, và ai sẽ phải gánh chịu tác động của nó?” - đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đặt vấn đề. Đại biểu đề nghị luật xác định loại nghĩa vụ có thể áp dụng từng biện pháp, phạm vi và thời hạn áp dụng, trách nhiệm thông báo, quyền yêu cầu dừng biện pháp và cách khôi phục quyền lợi khi áp dụng sai; đặc biệt phải bảo vệ người thứ ba không vi phạm.
![]() |
| Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long) phát biểu. |
Cùng quan điểm, đại biểu Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng) đề nghị làm rõ những giới hạn nào đối với việc cắt điện, nước, internet phải được quy định ngay trong luật, nội dung nào giao Chính phủ quy định về kỹ thuật thực hiện. Theo đại biểu, các điều kiện cơ bản để Nhà nước áp dụng những biện pháp này liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Đối với tạm hoãn xuất cảnh, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị chỉ áp dụng khi có căn cứ cụ thể về nguy cơ trốn tránh, quyết định phải nêu rõ thời hạn và được hủy bỏ ngay khi không còn căn cứ. Với người đại diện theo pháp luật của tổ chức, không nên hạn chế quyền đi lại chỉ dựa vào chức danh nếu chưa xác định trách nhiệm cá nhân hoặc nguy cơ trốn tránh. Biện pháp ngừng dịch vụ internet cũng cần giới hạn vào chủ thể, dịch vụ hoặc tài khoản liên quan trực tiếp đến vi phạm.
Đảm bảo quyền giải trình khi xử phạt bằng dữ liệu điện tử
Một nội dung khác được nhiều đại biểu quan tâm là xử lý hành vi vi phạm được phát hiện bằng phương tiện kỹ thuật. Đại biểu Hà Thị Anh Thư đề nghị luật quy định thời hạn thông báo vi phạm. Đại biểu chỉ ra rằng, có trường hợp hành vi được ghi nhận ngay khi xảy ra nhưng người dân nhận thông báo sau một thời gian dài, khiến việc tìm lại chứng cứ và giải trình trở nên khó khăn. “Nhà nước phát hiện vi phạm bằng công nghệ càng nhanh thì người dân phải được biết và thực hiện quyền của mình càng sớm” - đại biểu nói.
![]() |
| Đại biểu Hà Thị Anh Thư (đoàn Quảng Ngãi) phát biểu. |
Theo đại biểu, cần phân biệt thời hiệu xử phạt, tức thời gian Nhà nước có quyền xử phạt, với thời hạn thông báo, tức thời gian cơ quan nhà nước phải thực hiện trách nhiệm của mình. Người dân cần được tiếp cận chứng cứ, giải trình, gửi chứng cứ, khiếu nại, nộp phạt và theo dõi kết quả trên môi trường điện tử.
Đại biểu Dương Khắc Mai cũng đề nghị bảo đảm người bị xử lý được kiểm tra nguồn gốc, tính hợp lệ của dữ liệu và trình bày những tình tiết thiết bị không thể tự ghi nhận. Theo ông, vấn đề không nhất thiết là phải duy trì một biên bản giấy mà là bảo đảm cá nhân, tổ chức biết chứng cứ nào đang được sử dụng đối với mình và có cơ hội phản hồi trước khi quyết định xử phạt được ban hành.
Đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị chỉ áp dụng thủ tục xử phạt không lập biên bản khi vi phạm rõ ràng, mức độ nhẹ, chứng cứ đầy đủ và không có tranh chấp đáng kể; nếu có yêu cầu giải trình hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì cần lập biên bản.






