3 ưu tiên chính sách để ngành quỹ phát triển bứt phá
“Ngành quỹ là ngành niềm tin”
Chia sẻ tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Chương trình Vietnam Fund Awards 2026 (VFA 2026), bà Nguyễn Thị Bích Ngà - Phó Trưởng ban, Ban Quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho rằng, để ngành quỹ phát triển mạnh hơn, chính sách cần tập trung vào 3 ưu tiên, gồm đa dạng hóa sản phẩm, tăng tính minh bạch và xây dựng các cơ chế khuyến khích.
Trong đó, phát triển sản phẩm là yêu cầu đầu tiên. Các quỹ cần được mở rộng về loại hình và chiến lược để đáp ứng nhu cầu khác nhau của nhà đầu tư, từ thanh khoản, bảo toàn vốn đến tăng trưởng dài hạn.
Tuy nhiên, sản phẩm chỉ có thể phát triển bền vững khi đi cùng minh bạch. Nhà đầu tư chỉ sẵn sàng chuyển tiền từ hình thức tự đầu tư sang ủy thác khi có thể hiểu rõ chiến lược, mức độ rủi ro, chi phí và hiệu quả của sản phẩm.
“Ngành quỹ là ngành niềm tin, niềm tin chỉ đến khi chúng ta có sự minh bạch” - bà Ngà nhấn mạnh.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Bích Ngà - Phó Trưởng ban, Ban Quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phát biểu tại phiên thảo luận trong khuôn khổ VFA 2026. Ảnh: Đức Thanh |
Theo đại diện UBCKNN, đặc thù của ngành quản lý quỹ là nhà đầu tư giao tài sản cho một tổ chức chuyên nghiệp quản lý. Vì vậy, khả năng duy trì niềm tin thông qua công khai thông tin, định giá tài sản, quản trị rủi ro và hiệu quả đầu tư có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư.
Ưu tiên thứ ba là chính sách khuyến khích, bao gồm các ưu đãi về thuế, mở rộng kênh phân phối sản phẩm quỹ... Đây được xem là một trong những điều kiện để thúc đẩy người dân chuyển dần từ hình thức tự đầu tư sang đầu tư thông qua các định chế chuyên nghiệp.
Không vướng room ngoại, bài toán là tạo sản phẩm đủ hấp dẫn
Một vấn đề khác được đặt ra là khả năng thu hút vốn quốc tế thông qua các cấu trúc như Master-Feeder (Quỹ chính - Quỹ phụ). Mô hình đầu tư này tập hợp vốn từ nhiều nguồn khác nhau vào một quỹ trung tâm duy nhất để quản lý và giao dịch tài sản. Trong đó, quỹ “feeder” huy động vốn từ nhà đầu tư rồi phân bổ vào một quỹ “master” thực hiện đầu tư tập trung.
Theo bà Ngà, về mặt pháp lý, Luật Chứng khoán không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với chứng chỉ quỹ. Do đó, vấn đề cốt lõi không phải nhà đầu tư ngoại “có được mua hay không”, mà là làm thế nào để sản phẩm quỹ Việt Nam đủ hấp dẫn để họ lựa chọn.
Để mở rộng không gian sản phẩm, bà Ngà cho biết, Bộ Tài chính và UBCKNN đã đề xuất sửa đổi Thông tư số 98/2020/TT-BTC, trong đó có hướng đưa thêm các sản phẩm mới như quỹ ETF chủ động. Khác với ETF truyền thống chủ yếu mô phỏng một chỉ số tham chiếu, ETF chủ động cho phép công ty quản lý quỹ chủ động hơn trong xây dựng và điều chỉnh danh mục theo chiến lược đã công bố, qua đó mở rộng lựa chọn cho nhà đầu tư. Các Sở Giao dịch Chứng khoán cùng phát triển thêm các bộ chỉ số làm tài sản tham chiếu, tạo “nguyên liệu” cho các công ty quản lý quỹ phát triển ETF và các chiến lược đầu tư mới.
![]() |
| Các chuyên gia trao đổi tại phiên thảo luận trong khuôn khổ VFA 2026. Ảnh: Đức Thanh |
Ngoài ra, liên quan đến hạn mức đầu tư và quản trị rủi ro, theo bà Ngà, nguyên tắc xuyên suốt vẫn là quản trị rủi ro phù hợp với mục tiêu, tôn chỉ của từng quỹ. Việc quản lý rủi ro theo mô hình RBC (Risk-Based Capital - vốn trên cơ sở rủi ro) hay áp dụng hạn mức đầu tư cố định đối với quỹ mở đang được quan tâm. Khung quản trị rủi ro dựa trên mục tiêu, tôn chỉ của từng quỹ là nguyên tắc xuyên suốt. Cơ quan quản lý khẳng định sẽ tiếp tục lắng nghe các công ty quản lý quỹ để hoàn thiện quy định pháp lý phù hợp thực tiễn phát triển.
Từ mở rộng sản phẩm, thu hút vốn ngoại đến hoàn thiện cơ chế quản trị rủi ro, bài toán chung vẫn quay về 3 yếu tố mà đại diện UBCKNN nhấn mạnh. Đó là sản phẩm đủ tốt, thông tin đủ minh bạch và chính sách đủ sức tạo động lực. Đây cũng là điều kiện để ngành quỹ mở rộng quy mô, thu hút thêm dòng vốn dài hạn trong nước và quốc tế./.






